Thiền sư Thích Nhất Hạnh

Thiền sư Thích Nhất Hạnh là một thiền sư, giảng viên, nhà thơ, nhà văn, nhà khảo cứu, nhà hoạt động xã hội, người đấu tranh cho hòa bình.

Thiền sư sinh ra tại Thừa Thiên Huế, ngày 11/10/1926 xuất gia theo Thiền tông năm 16 tuổi và trở thành một nhà sư vào năm 1949. Ông pháp hiệu “Thích” đại biểu cho dòng tu Thích Ca được sử dụng bởi các nhà sư Việt Nam. Ông có tầm ảnh hưởng lớn thứ hai tại phương Tây sau Đạt-lai- Lạt Ma. Ông là người khởi xướng khái niệm “Phật giáo dấn thân” rộng rãi trên thế giới.

thien su thich nhat hanh
Thiền sư Thích Nhất Hạnh

Thiền sư Thích Nhất Hạnh đã tổng hợp kiến thức nhiều trường phái thiền từ truyền thống Phật giáo, những hiểu biết về Phật Giáo Đại Thừa và những phát kiến ngành tâm lý học phương Tây để việc tiếp cận Thiền trở nên gần gũi dễ hiểu phù hợp với thời hiện đại. Những đóng góp của ông khiến ông trở thành người có ảnh hưởng phát triển mạnh mẽ của Phật giáo phương Tây.

Thích Nhất Hạnh là người đầu tiên chủ trương tiên phong trong việc đưa Phật giáo qua phương Tây, ông đã thành lập sáu tu viện và hàng chục trung tâm tu tập ở Mỹ và Châu Âu, cùng với hơn 1.000 cộng đồng thực hành chánh niệm được gọi là “sanghas”.

Ông xây dựng nên một cộng đồng thịnh vượng gồm hơn 600 nhà sư và nữ tu trên toàn thế giới, cùng với hàng chục ngàn sinh viên đang theo học, áp dụng các giáo lý về chánh niệm, hòa bình và xây dựng cộng đồng trong các trường học, nơi làm việc, kinh doanh và thậm chí là cả nhà tù trên khắp thế giới.

Là một tu sĩ trẻ vào đầu những năm 1950, ông đã tích cực tham gia vào phong trào phục hồi Phật giáo Việt Nam. Ông là một trong những người đầu tiên nghiên cứu chủ đề thế tục tại một trường đại học ở Sài Gòn.

Tiểu sử Thiền sư Thích Nhất Hạnh

Thiền sư Thích Nhất Hạnh tên húy là Nguyễn Xuân Bảo, ông xuất gia thọ giáo Thiền sư Thanh Quý Chân Thật. Tốt nghiệp Viện Phật học Bảo Quốc miền trung Việt Nam, theo dòng Đại thừa Phật giáo và trở thành nhà sư vào năm 1949.

Thiền sư Thích Nhất Hạnh được công nhận là thiền sư và lãnh đạo tinh thần của chùa Từ Hiếu và nhiều tu viện khác. Ông là tổ của nhánh Từ Hiếu đời thứ 8 của dòng Liễu Quá đời thứ 42 của dòng phái thiền Lâm Tế Dhyana.

Ngày 1/5/1966 tại chùa Từ Hiếu, Thiền sư Chân Thật trao ấn cho Thích Nhất Hạnh chứng nhận ông là một Thiền sư (Thầy dạy về thiền)

Ông là một tu sĩ trẻ vào đầu những năm 1950, tích cực tham gia vào phong trào phục hồi Phật giáo Việt Nam, là một trong những người đầu tiên nghiên cứu chủ đề thế tục tại một trường đại học ở Sài Gòn.

Khi chiến tranh nổ ra ở Việt Nam, các nhà sư và nữ tu phải đối diện với câu hỏi là tuân theo cuộc sống tu hành hay ra đời giúp đỡ mọi người trong chiến tranh. Thích Nhất Hạnh lựa chọn cả hai và ông lập ra phong trào Phật Giáo Nhập Thế. Cuộc đời ông gắn liền với việc chuyển đổi bên trong vì lợi ích của cá nhân và xã hội.

Đầu năm 1960 ông thành lập Trường thanh thiếu niên với các dịch vụ xã hội tại Sài Gòn. Một tổ chức cứu trợ nhân đạo, xây dựng lại các cơ sở bị đánh bom, phục dựng trường học, trung tâm ý tế, một tổ chức lớn gồm 10.000 tình nguyện viên sống và áp dụng nguyên lý Phật giáo vào đời sống.

thien su thich nhat hanh ben nha nhan quyen martin luther king jr
Thiền sư Thích Nhất Hạnh bên nhà nhân quyền Martin Luther King Jr

Năm 1961 ông đến Hoa Kỳ để dạy ở Đại học Princeton, giảng dạy phật pháp tại đại học Columbia. Ông còn kêu gọi Martin Luther King Jr chống lại cuộc chiến tranh Việt Nam.

Trong thời kỳ chiến tranh diễn ra ác liệt, thiền sư đi lại thường xuyên giữa Mỹ và châu Âu kêu gọi hòa bình chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam. Nhưng sứ mệnh này không thành và kết quả là cả Bắc lẫn Nam Việt Nam bác bỏ quyền trở về Việt Nam do lo ngại nhiều vấn đề do chiến tranh đang đến hồi quyết định. Ông bắt đầu sống cuộc sống lưu vong trong 39 năm xa quê hương.

Thiền sư Thích Nhất Hạnh vẫn tiếp tục truyền bá phật pháp và vận động các nhà lãnh đạo phương Tây chống chiến tranh Việt Nam. Ông đã trở thành lãnh đạo phái đoàn Phật Giáo tại Paris Peace Talks vào năm 1969.

Thiền sư tiếp tục giảng dạy, viết sách về nghệ thuật chánh niệm và phương pháp “sống hòa bình”. Đầu những năm 1970, thiền sư là một giảng viên và nhà nghiên cứu Phật giáo tại Đại học Sorbonne, Paris. Năm 1975 thiền sư thành lập cộng đồng Sweet Potato gần Paris. Năm 1982, cộng đồng này di chuyển đến một khu vực rộng lớn hơn ở phía tây nam của nước Pháp, nơi thanh bình và tuyệt đẹp đó được gọi là “Làng Mai” hay Đạo tràng Mai Thôn.

Dưới sự lãnh đạo của Thiền sư Thích Nhất Hạnh, Làng Mai đã phát triển từ một trang trại nông thôn nhỏ đến những gì bây giờ là tu viện Phật giáo lớn nhất và năng động nhất ở phương Tây, với hơn 200 tu sĩ thường trú và hơn 8.000 du khách mỗi năm, những người đến từ khắp nơi trên thế giới để học “nghệ thuật của cuộc sống chánh niệm”.

Trong hai mươi năm qua, hơn 100.000 người đã cam kết tuân theo quy tắc hiện đại của Thiền sư Nhất Hạnh về đạo đức toàn cầu phổ cập trong cuộc sống hàng ngày của họ, được gọi là “Thực tập 5 chánh niệm”.

Những câu nói nổi tiếng của Thiền Sư thích Nhất Hạnh:

  1. ”Không ai trao cho ta tự do. Hãy tự mình nuôi dưỡng nó. Đó chính là công việc hàng ngày”.
  2. . Như một người làm vườn biết dùng phân bón để cho ra những bông hoa tươi đẹp, người tu tập phải biết tận dụng nỗi đau khổ để tạo ra hạnh phúc.
  3. . Tự do có được chính là nhờ tu tập và thói quen. Hãy rèn luyện mình cách bước đi như một người tự do, ngồi như một người tự do và ăn như một người tự do. Chúng ta phải rèn luyện bản thân về cách sống như thế nào.
  4. . Tức giận là do không giải quyết được những đau buồn của mình. Họ là nạn nhân đầu tiên của sự đau buồn đó, còn bạn là người thứ hai. Hiểu được điều này, lòng tư bi sẽ nảy nở trong tim và sự tức giận sẽ tan biến. Đừng trừng phạt họ, thay vào đó, hãy nói gì đó, làm gì đó để vơi bớt nỗi đau buồn.
  5. Vì bạn đang sống nên mọi thứ đều có thể thành sự thật.